News Display

Trọng tài thương mại Việt Nam và thẩm quyền tuyên bố hợp đồng vô hiệu


08-07-2021

Điều 132 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 (BLDS 2015) ghi nhận thẩm quyền tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thuộc về Tòa án nhưng trên thực tế vẫn có trường hợp trọng tài thương mại tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Do đó, câu hỏi đặt ra trong trường hợp này là trọng tài thương mại có thẩm quyền tuyên bố một giao dịch thương mại là vô hiệu hay không bởi BLDS 2015 (trước đây là Bộ luật Dân sự ban hành năm 2005) hoàn toàn không đề cập thẩm quyền này của trọng tài thương mại.[1]

Một số quan điểm cho rằng, do luật không có quy định cấm trọng tài được tuyên bố giao dịch vô hiệu nên trọng tài có thẩm quyền (nguyên tắc “chọn bỏ”). Theo quan điểm cá nhân tác giả, nếu chỉ dựa trên quan điểm “không quy định thì được làm” là không thực sự thuyết phục và trong nhiều trường hợp còn có thể chưa chính xác (đặc biệt là khi tham chiếu đến các cam kết thương mại được ban hành trên nguyên tắc “chọn cho”) mà cần xem xét sâu hơn đến các khía cạnh pháp lý của vấn đề để có được cơ sở rõ ràng hơn về việc thừa nhận thẩm quyền tuyên bố giao dịch thương mại vô hiệu của trọng tài.

Xét trên góc độ cơ chế để bảo vệ các quyền dân sự (quyền nhân thân và tài sản) thì trọng tài được ghi nhận là cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền: “Trường hợp quyền dân sự bị xâm phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền được thực hiện theo pháp luật tố tụng tại Tòa án hoặc trọng tài (Điều 14.1 BLDS 2015). Như vậy, BLDS 2015 với tư cách là đạo luật tổng quát đã thừa nhận vị trí và vai trò của trọng tài với trách nhiệm là cơ quan giải quyết tranh chấp, bảo vệ quyền dân sự. Điều này tạo cơ sở, tiền đề cho hệ thống pháp luật hình thức về giải quyết được phát triển theo hai hướng là tố tụng dân sự và tố tụng trọng tài.[1]

Quan hệ thương mại là một quan hệ dân sự đặc thù có điểm khác biệt so với quan hệ dân sự nói chung và giao dịch dân sự nói riêng bởi yếu tố về chủ thể, mục tiêu sinh lợi. Ngoài ra, sự đặc thù còn được thể hiện bởi cơ chế giải quyết tranh chấp, nếu như trong quan hệ dân sự chỉ Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thì quan hệ thương mại các bên có thể được tự do lựa chọn trọng tài mà không có hạn chế nào về phạm vi xét xử/thẩm quyền xét xử (Điều 317 Luật thương mại số 36/2005/QH11).

Theo Luật Trọng tài thương mại số 54/2010/QH12 (Luật TTTM 2010) thì trọng tài được thừa nhận là một hình thức giải quyết tranh chấp bên cạnh Tòa án, phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm và có thể được thi hành ngay mà không bị xét xử lại về mặt nội dung như tại Tòa án (quy tắc một bước xét xử). Hơn nữa, Điều 6 Luật TTTM 2010 cũng đưa ra các nguyên tắc cụ thể về việc phân định thầm quyền của Tòa án và trọng tài, theo đó, nếu một tranh chấp thuộc thẩm quyền của trọng tài và thỏa thuận trọng tài có hiệu lực có khả năng thực hiện được thì Tòa án phải từ chối thụ lý vụ kiện. Như vậy, pháp luật thừa nhận rằng các phán quyết của trọng tài không cần phải được đánh giá lại hay chấp thuận về mặt nội dung bởi bất kỳ cơ quan nào khác. Điều này cho thấy tính “ngang hàng” của hệ thống cơ quan xét xử giữa trọng tài và Tòa án.

Theo Điều 18 Luật TTTM 2010, thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu nếu rơi vào một trong các trường hợp:

  • Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của trọng tài.
  • Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền.
  • Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự.
  • Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định.
  • Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu.
  • Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.

tuy nhiên, nếu xét thêm Điều 19 Luật TTTM 2010 thì có thể lại cho ta một nhận định khác: Thoả thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thoả thuận trọng tài”. Thoạt nhìn có thể thấy sự mâu thuẫn, nhưng nếu xem xét kỹ thì có thể nhận thấy hai điều khoản này bổ sung cho nhau một cách rất hợp lý bởi: (1) pháp luật chỉ quy định các trường hợp thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu, nghĩa là bản thân điều khoản về lựa chọn giải quyết tranh chấp trọng tài bị mất hiệu lực thì mới không được sử dụng trọng tài để giải quyết tranh chấp và (2) đối với các trường hợp khác thì dù bản thân hợp đồng vô hiệu (VD: nội dung hợp đồng trái quy định của luật, trái đạo đức xã hội, hợp đồng giả tạo, hợp đồng vi phạm về hình thức) cũng không làm mất đi thẩm quyền của trọng tài. Hơn nữa, qua Điều 19 Luật TTTM 2010 cũng khẳng định một cách gián tiếp rằng “hợp đồng vô hiệu” không ảnh hưởng đến thẩm quyền của trọng tài.[2]

Tranh chấp thương mại liên quan đến hợp đồng vô hiệu là hoạt động xem xét về nội dung và bản chất của vụ việc. Do đó, ngay cả trong trường hợp có yêu cầu xem xét hủy phán quyết trọng tài được đưa ra thì Tòa án chỉ xem xét đến vấn đề về hình thức mà không xét xử lại nội dung vụ tranh chấp mà Hội đồng trọng tài đã giải quyết” (Điều 71 Luật TTTM 2010). Điều này là rất phù hợp bởi, nếu xét tính hợp lý của quá trình xét xử, giải quyết tranh chấp thì việc tranh chấp để được giải quyết mà phải đem ra hai hệ thống cơ quan xét xử thì sẽ thực sự không đảm bảo hiệu quả, không cho thấy sự toàn vẹn và đầy đủ về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài mà vô hình chung lại đẩy thêm “gánh nặng” lên vai của cơ quan Tòa án.

Trên thực tế, trong nhiều trường hợp, hội đồng trọng tài tại Việt Nam đã tuyên hợp đồng thương mại vô hiệu và khi có yêu cầu đề nghị không công nhận tại Tòa án thì Tòa án cũng thừa nhận quyền tuyên vô hiệu của trọng tài mà không đặt ra yêu cầu về thẩm quyền.

Như vậy, tác giả cho rằng, việc BLDS 2015 không ghi nhận cụ thể thẩm quyền của trọng tài trong tuyên bố giao dịch vô hiệu là có thể hiểu được bởi bản thân BLDS 2015 được định hình để điều chỉnh các quan hệ dân sự nói chung, nếu đưa thêm các vấn đề của luật chuyên ngành vào thì sẽ là không phù hợp và thiếu đi sự tổng quát của một bộ luật “mẹ”. Hơn nữa, trong pháp luật chuyên ngành cũng đã có các quy định gián tiếp thừa nhận thẩm quyền trên của trọng tài. Tuy nhiên, để có một cách hiểu thực sự thống nhất và rõ ràng thì trong thời gian tới cần có làm rõ vấn đề này trong các văn bản pháp luật đặc biệt là trong bộ luật dân sự và luật trọng tài thương mai để tránh các cách hiểu khác nhau./.

Nguyễn Đức Long - Công ty Luật TNHH IBPRO Việt Nam

 

[1]              Bài viết này sẽ không đề cập đến các vấn đề về tố tụng hành chính và tố tụng hình sự cũng như việc công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam.

[2]              Tham khảo Điều 28.1 Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC): “[..] quyết định của Hội đồng Trọng tài rằng hợp đồng vô hiệu không làm mất hiệu lực của thỏa thuận trọng tài.”

Người đăng: IBPro
08-07-2021

Follow Us