News Display

Chi nhánh ký hợp đồng, phát hóa đơn “đỏ” cho công ty mẹ có bất khả thi?


11-08-2021

[1] Không dám nói là toàn bộ, nhưng hầu hết trong số chúng ta đều thấm nhuần rằng ‘phải có cây thì mới có cành và cành thì không thể sống thiếu cây’. Tất nhiên, đoạn vừa rồi là sự cải biên “nhẹ” từ bài hát Một đời người một rừng cây của Nhạc sĩ Trần Long Ẩn nhưng nó cũng cho thấy đây là điều xưa như địa cầu và ai đó mà nhắc đến có khi lại bị bảo là hết chuyện để nói, trần trụi hơn thì gọi là “đần”. Trong hoạt động kinh doanh hay pháp lý doanh nghiệp, vấn đề cũng xảy ra tương tự như khi có người hỏi tôi hoặc bạn (giả sử bạn và tôi là người học luật cho tiện hình dung) một vài câu như sau:

(a) “Chi nhánh có tư cách pháp nhân không?”

Cái này thì dễ trả lời quá, ít nhất ba luật và bộ luật đều “nói dứt khoát” là không nên là câu này đần thật.

(b) “Chi nhánh có ký hợp đồng với công ty mẹ của mình được không? Có phát được hóa đơn VAT cho công ty mẹ của mình được không?”

Lại một câu hỏi có vẻ rất “đần” nữa nhưng lần này thì lại  khác, chúng ta nên bình tĩnh để xem xét kỹ lưỡng trước khi kết luận xem “đằng ấy” có thực sự bị “đần” không. Đây cũng chính là điều mà tôi muốn cùng chia sẻ góc nhìn với mọi người trong bài viết này.

 

[2] Điều 84.1 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS 2015) quy định “Chi nhánh, văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, không phải là pháp nhân”. Điều 44.1 Luật doanh nghiệp 2020 (Luật DN 2020) quy định “Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp”. Đến đây thì không cần dẫn chiếu thêm nữa, chi nhánh không có tư cách pháp nhân là không phải bàn cãi. Xét về chức năng, chi nhánh có chức năng cơ bản sau: “[..] thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp, bao gồm cả chức năng đại diện theo ủy quyền”. Điều này có thể hiểu như sau: (1) chi nhánh có thể thực hiện toàn bộ chức năng của một doanh nghiệp, nghĩa là công ty mẹ có thể chẳng phải làm gì cả, để chi nhánh làm tất, công ty mẹ chỉ “ngồi chơi”;[1] và (2) chi nhánh có thể đại diện cho bên thứ ba mà không nhất thiết phải là công ty mẹ (điều này được diễn giải xuất phát từ chức năng là thực hiện toàn bộ chức năng của doanh nghiệp nên đương nhiên có quyền đại diện thì mới thực hiện được chức năng (1), còn đại diện theo ủy quyền (2) sẽ là đại diện cho một bên thứ ba (VD: công ty A ủy quyền cho chi nhánh công ty B ký hợp đồng với công ty C). Còn nếu không hiểu theo cách chỉ nhận ủy quyền từ công ty mẹ thì vế thứ hai chẳng có gì mới để bàn, chỉ cần quy định ý (1) là đủ). Đến đây, có thể hiểu rằng, mặc dù không có tư cách pháp nhân nhưng chi nhánh có thể làm thay toàn bộ chức năng của doanh nghiệp.

 

[3] Chi nhánh thì lại có nhiều kiểu: chi nhánh hạch toán độc lập, chi nhánh hạch toán phụ thuộc (phân theo chế độ kế toán, thuế); chi nhánh của doanh nghiệp trong nước và chi nhánh của doanh nghiệp nước ngoài (phân theo quốc tịch pháp nhân). Trong đó, phân biệt theo chế độ kế toán thuế là phổ biến nhất hiện nay bởi nó liên quan nhiều đến tiền và thuế. Chi nhánh hạch toán phụ thuộc thì đơn giản là “rất phụ thuộc”vào công ty mẹ trừ việc tự đóng lệ phí môn bài, kê khai thuế GTGT (trong một số trường hợp), khấu trừ thuế TNCN và một số nội dung khác còn lại thì công ty mẹ sẽ là chủ thể thực hiện (để chi tiết và chính xác hơn sẽ cần phân biệt chi nhánh cùng tỉnh với công ty mẹ hay không hoặc hoạt động trong lĩnh vực nào …vv nhưng phạm vi bài viết sẽ đi không phân tích nội dung này). Đối với chi nhánh hạch toán độc lập thì về cơ bản là gần giống như một doanh nghiệp ở góc độ hạch toán, kê khai, nộp thuế và các loại báo cáo cũng như có con dấu, tài khoản riêng, kê khai và nộp thuế riêng, lập báo cáo thuế, tài chính riêng... . Thế nên, chúng tôi hay nói vui rằng “chi nhánh hạch toán độc lập và công ty con đều là con của một mẹ nhưng một đứa được cấp căn cước công dân, đứa còn lại thì không”.  

 

[4] Theo Thông tư 39/2014/TT-BTC được sửa đổi bổ sung bởi Thông tư số 119/2014/TT-BTC, Thông tư 26/2015/TT-BTC, Thông tư 37/2017/TT-BTC (sau đây gọi tắt là “Thông tư 39”) thì hóa đơn giá trị gia tăng (hóa đơn VAT) có chức năng như sau:

a) Hóa đơn giá trị gia tăng [..] là loại hóa đơn dành cho các tổ chức khai, tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ trong các hoạt động sau:

- Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trong nội địa;

- Hoạt động vận tải quốc tế;

- Xuất vào khu phi thuế quan và các trường hợp được coi như xuất khẩu

Thông tư 39 cho ta một cách hiểu rằng giữa các bên khi mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thì cần phải sử dụng hóa đơn VAT. Điều đó có nghĩa rằng các bên cần xác lập hợp đồng (bằng văn bản hoặc không bằng văn bản) thì mới có lý do để xuất hóa đơn VAT.

Tuy nhiên, quy định tại Thông tư 156/2013/TT-BTC (được sửa đổi bổ sung bởi một loạt các Thông tư từ năm 2014 đến 2017) lại có thể khiến chúng ta ”việt vị” khi quy định rằng: “Trường hợp người nộp thuế kê khai, nộp thuế theo phương pháp khấu trừ có cơ sở sản xuất trực thuộc (bao gồm cả cơ sở gia công, lắp ráp) không trực tiếp bán hàng, không phát sinh doanh thu đóng trên địa bàn cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính thì: Nếu cơ sở sản xuất trực thuộc có hạch toán kế toán thì phải đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ tại địa phương nơi sản xuất, khi điều chuyển bán thành phẩm hoặc thành phẩm, kể cả xuất cho trụ sở chính phải sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng làm căn cứ kê khai, nộp thuế tại địa phương nơi sản xuất.”

Như vậy, câu hỏi đặt ra là “chi nhánh hạch toán độc lập được xuất hóa đơn VAT cho công ty mẹ cũng được ký hợp đồng với công ty mẹ?” Chuyện lại không đơn giản như vậy, ở đây cần làm rõ giữa vấn đề hạch toán, kế toán, nghi nhận doanh thu, chi phí với nhà nước và quan trọng nhất là nghĩa vụ thuế với các quan hệ về mặt pháp nhân, đại diện. Để giải thích thì sẽ thực sự là dài dòng nhưng việc xuất hóa đơn VAT sẽ được hiểu như là một công cụ để chứng minh “đầu vào-đầu ra”, tính hợp lý, minh bạch của những con số. Ngoài ra, trên thực tế, không chỉ việc chuyển bán thành phẩm mới xuất hóa đơn VAT mà rất nhiều trường hợp khác đối với hàng hóa cũng phải xuất hóa đơn VAT khi chuyển hàng hóa/cung cấp dịch vụ từ chi nhánh hạch toán độc lập cho công ty mẹ. Thực tế cho thấy công ty mẹ và chi nhánh có nhiều cách để văn bản hóa việc xuất hóa đơn này mà không nhất thiết là lập thành hợp đồng.

 

[5] Từ mục [4] nêu trên thì dường như vẫn chưa có câu trả lời cho việc liệu chi nhánh và công ty mẹ có được ký hợp đồng với nhau không, nếu không được ký hợp đồng thì lấy đâu cơ sở để xuất hóa đơn, còn nếu ký thì lại quá vô lý, chả nhẽ công ty lại đi ký hợp đồng với “chính mình”.

Chúng ta hãy quay trở lại câu chuyện về chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự. Điều 117 BLDS 2015 quy định một trong những điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực là: “a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập.” Trong khi đó, Điều 1 BLDS 2015 quy định chủ thể của một quan hệ dân sự phải là cá nhân hoặc pháp nhân, chủ thể khác thì không được chấp nhận. Điều này đã gây ra nhiều tranh luận trong suốt thời gian từ 2017 đến nay mà điển hình là các lập luận có phần đối lập giữa Bộ tư pháp và Ngân hàng nhà nước về chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự (chi tiết các bạn có thể dễ dàng tìm đọc trên báo chí vì tôi không tiện nêu ở đây).[2] Điều này đã đặt chi nhánh vào một hoàn cảnh đã khó lại càng khó trong việc được xem là một chủ thể trong quan hệ dân sự và “hết cửa” để xác lập hợp đồng với công ty mẹ.

 

[6] Đáp án cho câu hỏi ở đầu bài viết  là chúng ta có một “phương trình vô nghiệm”, không thể làm rõ được điều này một cách triệt để bởi bản chất chúng không cùng một hệ quy chiếu. Để phục vụ các mục tiêu về quản lý tài chính và thuế thì việc minh bạch giữa “đầu vào-đầu ra”, doanh thu, chi phí là vô cùng cần thiết nên việc yêu cầu xuất hóa đơn VAT không hề khó hiểu và trên thực tế cũng không có quy định nào nói với chúng ta rằng giữa chi nhánh và công ty mẹ không được làm như vậy. Hơn nữa đây là mối quan hệ giữa doanh nghiệp và Nhà nước giữa trách nhiệm kê khai, nộp thuế và quản lý thuế (bản thân VAT không phải là nguồn thu của doanh nghiệp) nên cách tiếp cận này là phù hợp.

Ở chiều ngược lại, việc chi nhánh và doanh nghiệp xuất hóa đơn VAT cho nhau cũng tạo ra một giao dịch dân sự mà ở đó hàng hóa/dịch vụ được luân chuyển và đương nhiên nó cũng nhằm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 116 BLDS 2015) nên không thể nói là các bên không phát sinh một hợp đồng trên thực tế có cái là nên viết ra thành văn bản hay trao nhau tờ hóa đơn “đỏ” là đã đủ chứng minh điều này. Tuy nhiên, nhìn vào thực tiễn thì doanh nghiệp không quá quan tâm đến hợp đồng trong trường hợp này vì mục tiêu quan trọng nhất là giải trình được với cơ quan thuế, hơn nữa, đây đều là các “giao dịch nội bộ” nên cũng không tiềm ẩn nguy cơ tranh chấp, không phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại hay đưa nhau ra tòa mà nếu có đưa nhau ra tòa thì chi nhánh biết kiện công ty mẹ kiểu gì cho thỏa.  

 

Trên đây là một số ý kiến của tôi về vấn đề này, dẫu biết là còn nhiều ý kiến trái chiều, còn nhiều điều chưa thực sự đi được đến cuối của con đường và tư duy thì không có điểm dừng nên rất mong nhận được đóng góp, chia sẻ của đông đảo mọi người.

 

Nguyễn Đức Long – Công ty Luật TNHH IBPRO Việt Nam

 

 

[1] Thuật ngữ công ty mẹ dùng trong bài viết này được dùng để chỉ doanh nghiệp thành lập ra chi nhánh mà không có ý nghĩa như mô hình công ty mẹ, công ty con.

Người đăng: IBPro
11-08-2021

Follow Us